Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam » Bạn đọc » Việt Nam chính thức sản xuất động cơ máy bay: vừa mừng vừa lo

(Bạn đọc) - Đầu tư vào sản xuất linh kiện động cơ máy bay, ngoài những lợi ích kinh tế, tín hiệu tích cực thì vẫn ngổn ngang nhiều nỗi lo.


Trong những năm gần đây, nền công nghiệp nước nhà đã có những bước chuyển mình tích cực nhờ biết nắm bắt những lợi thế, nội lực của mình và tận dụng tối đa những ngoại lực từ sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Nhờ môi trường đầu tư ổn định, nhiều thuận lợi, chúng ta đã thu hút rất nhiều tập đoàn, công ty nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp công nghệ cao, điển hình là mới đây, một tập đoàn của Hàn Quốc đã tiến hành đầu tư dự án sản xuất linh kiện động cơ máy bay tại Hà Nội, tuy nhiên ngoài những lợi ích kinh tế, tín hiệu tích cực mà nó mang lại thì vẫn ngổn ngang nhiều nỗi lo.

Sáng ngày 21/09, tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội), Công ty TNHH Hanwha Techwin (Hàn Quốc) chính thức khởi công dự án nhà máy sản xuất cấu kiện, linh kiện động cơ máy bay Hanwha Aero Engines với tổng mức đầu tư 200 triệu USD (hơn 4.500 tỷ đồng) gồm 3 nhà máy trên diện tích 5,7 ha (dự kiến mở rộng đầu tư lên 260 triệu USD trên diện tích lên 9,67 ha).

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh, việc khởi công nhà máy sản xuất cấu kiện, linh kiện động cơ máy bay Hanwha Aero Engines có ý nghĩa to lớn khi đây là dự án đầu tư đầu tiên tại Việt Nam liên quan đến ngành công nghiệp hàng không. Dự án sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển trong tương lai của ngành công nghiệp hàng không và ngành công nghiệp gia công cơ khí chính xác tại Việt Nam.

Trong khi đó, ông Shin Hyun Woo, Tổng giám đốc Công ty TNHH Hanwha Techwin, cho rằng, dự án đáp ứng nhu cầu tăng sản lượng, đảm bảo năng lực sản xuất cạnh tranh đạt chuẩn quốc tế, đảm nhận vai trò then chốt trong việc đưa Hanwha Techwin thành doanh nghiệp sản xuất linh kiện động cơ hàng không dẫn đầu thế giới.

Việt Nam sẽ có nhà máy sản xuất động cơ máy bay đầu tiên

Việt Nam sẽ có nhà máy sản xuất động cơ máy bay đầu tiên

Sẽ là một dự án công nghệ cao đầy hứa hẹn

Rõ ràng trong thời điểm hiện nay, cuộc cách mạng 4.0 đã phả sức nóng vào Việt Nam, thôi thúc, bắt buộc chúng ta phải vận động, chạy đua ngày đêm để chiếm lĩnh những giá trị tích cực mà nó mang lại thì việc thu hút những dự án công nghệ cao như thế này là rất đáng quý. Hiện nay khi nội lực chúng ta chưa thật mạnh, các dự án FDI trong lĩnh vực công nghệ đầu tư vào Việt Nam sẽ mang theo nguồn lực tài chính không hề nhỏ với dây chuyền tân tiến, hiện đại, đội ngũ các nhà khoa học của các nước phát triển có trình độ và giàu kinh nghiệm. Ngoài giải quyết được vấn đề việc làm, đóng góp nguồn thu cho ngân sách thì nếu tận dụng tốt, chúng ta sẽ được tiếp cận với các công nghệ mới và hoàn toàn có thể nghĩ đến việc làm chủ được các công nghệ đó, hay nói cách khác đó là đi tắt đón đầu, đi sau và về kịp lúc. Không những vậy, việc thu hút được nhà đầu tư Hanwha Techwin rót vốn vào khu công nghệ cao Hòa Lạc sẽ giúp phần nào phá bớt tảng băng đè nén lên khu công nghệ cao này đã gần 2 thập kỉ. Một mũi tên đã trúng khá nhiều đích.

Tại sao phải lo lắng?

Tuy vậy, khoan gác lại số vốn khổng lồ, những từ ngữ chuyên môn hàn lâm, sự hào nhoáng của “render” dự án mà hãy nhìn vào bản chất thật sự của nó.

Thứ nhất, Việt Nam vẫn chỉ là địa điểm thôi sao?

Có thể dù không muốn nhưng phải nhìn thẳng, trong các dự án công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta vẫn cung cấp 2 thứ cơ bản: mặt bằng và nhân công giá rẻ. Một trong những mục đích quan trọng của việc thu hút FDI đó chính là vấn đề chuyển giao, tạo sức lan toả cho nền kinh tế. Mặc dù một số doanh nghiệp FDI cũng đã thực hiện chuyển giao công nghệ cho Việt Nam, tuy nhiên số lượng lại không nhiều. Trong giai đoạn 2006-2015, gần 14.000 dự án FDI mới có khoảng 600 hợp đồng chuyển giao công nghệ (chiếm tỷ lệ 4,28%).

Đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (2016) cho thấy hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI của Việt Nam thấp ở mức đáng ngạc nhiên và có xu hướng ngày càng bị đẩy ra xa so với các quốc gia trong khu vực. Một bất cập nữa cần được kể tới đó là các doanh nghiệp FDI mang vào Việt Nam công nghệ trung bình, lạc hậu chiếm phần lớn. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hơn 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 14% ở mức thấp và lạc hậu, chỉ có 5-6% sử dụng công nghệ cao.

Trong dự án sản xuất linh kiện máy bay này, hai bên vẫn chưa bàn đến công tác chuyển giao công nghệ và nỗi lo về việc phía đối tác vẫn ém nhẹm và không có thiện chí chuyển giao là hoàn toàn có cơ sở. Hơn 20 năm trước những HONDA, TOYOTA, YAMAHA bước chân vào Việt Nam, cũng đã có những lời hứa hẹn về việc chuyển giao công nghệ nhưng đã qua 2 thập kỉ, chúng ta vẫn chưa nắm bắt được những công nghệ đó một phần do năng lực nội tại và một phần cũng bởi sự thiếu thiện chí của các đối tác. Vậy đối với một dự án tầm cỡ như sản xuất linh kiện máy bay thì điều này vẫn còn quá xa vời.

Khởi công dự án nhà máy sản xuất cấu kiện, linh kiện động cơ máy bay Hanwha Aero Engines

Khởi công dự án nhà máy sản xuất cấu kiện, linh kiện động cơ máy bay Hanwha Aero Engines

Thứ hai, ngày càng nhiều dự án FDI đầu tư vào Việt Nam thì liệu nền kinh tế có hình thành “sức ì” và phụ thuộc quá nhiều vào FDI không?

Điều này hoàn toàn có cơ sở, Việt Nam thời gian qua được biết là một điểm sáng trong thu hút FDI . Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/08/2017, có 124 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (tổng số 23.972 dự án còn hiệu lực) với tổng vốn đăng ký hơn 300 tỷ USD. Nếu chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2017, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần đạt 23,36 tỷ USD, tăng 45,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Vốn thực hiện đạt 10,3 tỷ USD, tăng 5.1%. Trong những tháng cuối năm, dòng vốn FDI được dự báo tiếp tục chảy vào Việt Nam, duy trì vai trò động lực tăng trưởng cho toàn nền kinh tế. Nhiều dự báo cho rằng, năm nay dòng FDI có thể tăng lên con số kỷ lục 28 tỷ USD. Hiện nay các doanh nghiệp FDI chiếm tới 70% giá trị xuất khẩu và trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp. Cụ thể, số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2016, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 123,928 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm 2015, chiếm 70,16% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Đơn cử một tập đoàn lớn của Hàn Quốc có nhiều dự án đầu tư tại Việt Nam là Samsung thời gian qua đã đóng góp khá lớn vào kim ngạch xuất khẩu cũng như tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên mới đây, Tập đoàn này đã gặp sự cố đối với sản phẩm điện thoại Samsung Galaxy Note 7. Sau thu hồi và dừng sản xuất, tập đoàn này đã mất trắng khoảng 17 tỷ USD. Sự cố của Samsung tất yếu ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế nước nhà, việc Samsung bị sự cố và thiệt hại lớn đã cho thấy, chỉ cần một tập đoàn nước ngoài “hắt hơi” đã khiến nền kinh tế Việt Nam bị “sổ mũi”.

Chúng ta phải cần sớm “tỉnh giấc” sau khi quá mải mê nhìn vào những con số xuất khẩu “ấn tượng”. Trong khi đó giá trị gia tăng hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở mức khiêm tốn. Mỗi khi được truyền thông giật tít: “Việt Nam sản xuất được điện thoại, ô tô, xe máy, linh kiện máy bay,…” chúng ta rất đỗi vui mừng nhưng thực chất đó vẫn là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và để phát triển bền vững thì rõ ràng không nên ỉ lại vào đấy.

Thứ ba, về mặt nhân lực

Đối với dự án sản xuất linh kiện máy bay này nói riêng và nhiều dự án công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao khác, hầu hết nhân lực được sử dụng đều là các nhà khoa học, kĩ sư có trình độ, được đào tạo bài bản chuyên sâu, có kỷ luật lao động rất tốt, tuy nhiên trong số này đa phần không phải là người Việt, nếu có sử dụng thì phía đối tác đều sử dụng lao động người Việt vào những khâu đơn giản, không cần nhiều chất xám.

Để lý giải điều này có lẽ một mặt đến từ chất lượng lao động của chúng ta chưa đủ đáp ứng với yêu cầu và ngoài ra đối với đội ngũ các nhà khoa học người Việt, phía nước ngoài cũng không thật sự ưu tiên bởi yếu tố bí mật kinh doanh, chưa thiện chí chuyển giao công nghệ. Điều này dẫn đến nhiều hệ lụy, đối với lực lượng lao động đơn thuần họ sẽ ngày càng có ít công việc, đối mặt với thất nghiệp do sự đòi hỏi về chất lượng ngày càng cao, đối với các nhà khoa học, kĩ sư có năng lực, nếu không được các tập đoàn này tuyển dụng, họ thường tìm con đường đến với các nước phát triển hơn là ở lại nước nhà bởi không có môi trường làm việc phù hợp.

Thứ tư, các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ sản xuất công nghiệp sẽ có ít cơ hội

Thực trạng hiện nay nhiều doanh nghiệp chưa thể đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng sản phẩm để tham gia cùng nhà sản xuất lớn. Trong khi đó, doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam thường mang theo một loạt công ty cung ứng khác. Sự khác biệt này lý giải được lý do tại sao doanh nghiệp FDI thắng thế so với doanh nghiệp trong nước. Đơn cử như trong dự án sản xuất linh kiện máy bay này, nhà đầu tư Hàn Quốc nếu có thiện chí liên kết với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước thì cũng rất khó khăn, bởi đối với những ngành như ô tô, đóng tàu để tìm một doanh nghiệp phù hợp, có năng lực thì cũng đã rất vất vả, chưa nói đến ngành công nghiệp đòi hỏi rất cao như công nghiệp hàng không. Do vậy doanh nghiệp nội địa đã yếu lại còn yếu thêm.

Có thể nói rằng, mừng thì ít mà lo thì nhiều. Trong công cuộc phát triển kinh tế hiện nay, mỗi một dự án của các nhà đầu tư nước ngoài là một tín hiệu tích cực. Tuy vậy, bản chất của sự phát triển kinh tế của một quốc gia vẫn là nội lực, tiềm lực thực chất của quốc gia đó, cần phải xem sự đầu tư FDI là tạm thời, là bước đệm, chiếc cầu nối gắn kết chúng ta với thế giới. Dù có là công nghiệp hàng không, công nghiệp vũ trụ, công nghiệp nano,… những cái tên khác mỹ miều hơn nữa thì chúng ta vẫn chưa thể tự hào nếu như những sản phẩm công nghiệp, công nghệ đó vẫn khoác áo “Made in Vietnam” nhưng xương cốt lại không phải của mình.

CTV Quảng An

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@vuducdam.org
Kết bạn với Phó Thủ tướng Chính phủ trên Facebook
Thích và chia sẻ bài này trên Facebook
Share on Link Hay! Share on Facebook! Tweet This!